ThanhDa.orgThanh Đa, bán đảo thức giấc
Lịch sử bán đảo

Thanh Đa thời ruộng vườn: bán đảo ra sao trước khi lên phố

Trước khi lên phố, Thanh Đa là một vùng ruộng lúa, vườn rau và mương rạch sống theo con nước sông Sài Gòn. Nhiều dấu vết của thời đó vẫn còn trên bán đảo hôm nay nếu biết nhìn.

Người đàn ông đội nón tưới luống rau xanh cạnh mương nước trên bán đảo

Trước khi lên phố, bán đảo Thanh Đa là một vùng ruộng lúa, vườn rau và ao mương, nhà cửa thưa thớt nằm trên những nền đất đắp cao. Đời sống chạy theo con nước sông Sài Gòn: nước lớn thì dẫn vào mương, nước ròng thì tháo ra, mùa mưa lo bờ bao, mùa khô lo nước mặn.

Chuyện thời đó phần lớn còn trong lời kể của người lớn tuổi và trong vài mảnh ruộng, mương sót lại giữa các dãy nhà mới. Bài này ghép lại bức tranh ấy theo những gì người ở lâu thường kể, và nói rõ chỗ nào chỉ là truyền miệng.

Đất bán đảo hồi chưa có phố trông như thế nào?

Hình dung một túi đất thấp, mặt đất gần ngang mép nước lúc triều lớn, chằng chịt mương nhỏ chạy từ sông vào. Nhà không xây thành dãy mà nằm rải rác, mỗi nhà một mô đất cao, quanh nhà là vườn, xa hơn là ruộng. Lối đi chủ yếu là bờ ruộng, bờ mương, đường đất nhỏ đủ cho người và xe đạp.

Người lớn tuổi hay tả bán đảo thời đó bằng những chi tiết rất cụ thể: đi một quãng mới gặp một nhà, tối không có đèn, gió sông thổi suốt, mùa nước lớn thì đường đất lầy tới mắt cá. Những lời tả này giống nhau ở nhiều người nên khá đáng tin về không khí chung, dù từng chi tiết thì cần đối chiếu.

Hình thái ấy không phải riêng Thanh Đa. Nhiều vùng ven sông quanh Sài Gòn như Bình Quới, Hiệp Bình, các bãi bồi ven sông khác đều từng sống bằng ruộng và vườn. Cái riêng của Thanh Đa là vì chỉ có một lối vào chính qua cầu Kinh nên lớp ruộng vườn này còn sót lại lâu hơn hẳn khu xung quanh.

Cũng nên nói thẳng: người viết không có số liệu về diện tích ruộng, số hộ hay sản lượng thời đó, và không nêu mốc năm cụ thể. Ai cần những con số ấy nên tìm trong tài liệu lưu trữ, địa chí của thành phố, đừng tin con số lan trên mạng mà không ghi nguồn.

Người ở bán đảo thời đó sống bằng gì?

Trồng rau ăn lá. Rau muống, rau lang, cải, các loại rau ưa nước hợp với đất phù sa ẩm. Rau cắt sáng sớm, chở ra các chợ bên kia cầu, vòng quay nhanh nên nhiều nhà sống được trên mảnh đất nhỏ.

Làm lúa trên ruộng trũng. Ruộng chịu ảnh hưởng con nước nên lịch cấy gặt phải tính theo mùa mưa, mùa khô và lúc nước mặn lên. Lời kể về năng suất thì khác nhau nhiều, nên chỉ nghe như chuyện, không lấy làm số liệu.

Nuôi cá, nuôi vịt trong ao mương. Mương vừa dẫn nước tưới vừa là chỗ thả cá. Vịt chạy đồng sau mùa gặt là cảnh nhiều người lớn tuổi còn nhớ.

Đánh bắt ven sông. Giăng lưới, đặt lờ, đặt lọp ở mép sông và trong các rạch nhỏ. Cá tôm theo con nước vào ra, ai rành lịch nước thì bắt được nhiều hơn.

Chở đò, chở ghe. Khi sông còn là đường đi chính, có người sống bằng nghề đưa người, chở hàng qua sông và dọc kênh.

Trồng cây ven nước. Dừa nước lấy lá lợp nhà, bần, các loại cây giữ bờ. Lá dừa nước một thời là vật liệu lợp mái phổ biến ở vùng ven sông.

Đi làm thuê bên kia cầu. Càng về sau, càng nhiều người vừa giữ mảnh vườn vừa sang phố làm thợ, buôn bán. Đây là bước chuyển âm thầm trước khi ruộng thành đất ở.

Họp chợ nhỏ trong xóm. Chợ chồm hổm sáng sớm, bán rau, cá trong ngày. Người ta mua của nhau là chính, phần dư mới mang ra ngoài.

Sống theo con nước: lịch ngày của một nhà vườn ven sông

Nhà vườn ở bán đảo không coi lịch dương là chính. Thứ họ nhìn là con nước: hôm nay nước lớn mấy giờ, ròng mấy giờ, đang con nước rong hay nước kém. Con nước quyết định khi nào mở cống mương cho nước vào, khi nào đóng lại giữ nước, khi nào ra sông giăng lưới.

Một buổi sáng điển hình bắt đầu rất sớm: cắt rau, bó rau, chở ra chợ trước khi trời nắng. Trưa nắng gắt thì nghỉ, chiều lại ra vườn. Mùa mưa lo đắp bờ, vét mương cho nước thoát; mùa khô lo nước sông mặn lên, tưới rau phải canh nước ngọt.

Chuyện nước mặn là chi tiết người ngoài hay bỏ qua. Sông Sài Gòn đoạn này chịu thủy triều từ biển, mùa khô dòng ngọt từ thượng nguồn yếu đi, độ mặn có thể đẩy lên. Người trồng rau phải biết nhìn, nếm, hỏi nhau để khỏi tưới nhầm nước làm cháy rau.

Lối sống ấy đòi một thứ hiểu biết nay hiếm: đọc nước bằng mắt. Nhìn vạch rêu trên cột bến, nhìn hướng lục bình trôi, nhìn bãi bùn lộ ra bao nhiêu là biết nước đang lên hay xuống. Người trẻ ở bán đảo hôm nay xem lịch triều trên điện thoại, còn ông bà họ thì nhìn mặt sông.

Vì sao Thanh Đa giữ nét ruộng vườn lâu hơn khu xung quanh?

Chỉ có một lối vào chính. Mọi vật liệu xây dựng, mọi luồng người tới đều phải qua cầu Kinh, nên tốc độ xây cất chậm hơn những khu nằm thẳng trên trục đường lớn.

Đất thấp, nền yếu. Muốn xây nhà phải tôn nền, gia cố móng, tốn hơn nơi khác. Nhiều người chọn giữ đất làm vườn thay vì xây.

Ngập theo triều. Vùng hay ngập thì kém hấp dẫn với người mua đất ở trong một thời gian dài.

Quy hoạch thay đổi nhiều lần. Bán đảo từng được nhắc trong nhiều ý tưởng quy hoạch khác nhau. Khi chưa rõ hướng, người dân khó xây dựng lớn, đất cứ giữ nguyên hiện trạng.

Đường nội bộ hẹp. Ngoài trục đường chính chạy quanh bán đảo, phần lớn lối đi bên trong là hẻm nhỏ, khó đưa xe lớn vào.

Người gốc gắn với đất. Những nhà làm vườn lâu đời thường chia đất cho con cháu từng phần nhỏ hơn là bán một lần, nên mảng xanh tan ra chậm.

Cảnh quan sông kéo người tới chơi chứ không tới ở. Quán ven sông, khu vui chơi dọc đường Bình Quới làm bán đảo thành chỗ đi chơi cuối tuần trước khi thành chỗ ở đông đúc.

Ranh giới sông và kênh rõ ràng. Mép nước giới hạn việc mở rộng, khác với những vùng đất liền có thể lan ra mọi phía.

Dấu vết thời ruộng vườn nào còn thấy được hôm nay?

Đi chậm một vòng bán đảo vẫn nhận ra nhiều dấu vết của lớp thời gian cũ. Bảng dưới gom những thứ dễ gặp và cách đọc chúng.

Dấu vếtThường gặp ở đâuNói lên điều gì
Mảnh ruộng, vườn rau xen giữa nhàPhía trong, xa trục đường chínhLớp sử dụng đất cũ chưa bị phủ kín
Mương nước thẳng, hẹp chạy vào từ sôngSau các dãy nhà, cạnh vườnHệ thống dẫn và tháo nước theo con nước
Nhà nền cao, sân thấpCác nhà lâu nămCách người xưa né ngập: tôn nền nhà, để sân chịu nước
Hàng dừa nước, cây bần giàMép sông, mép rạchBờ đất bùn ngập triều, nơi người xưa lấy lá lợp nhà
Hẻm cong theo bờ mương cũKhu dân cư trong lòng bán đảoĐường đi mọc lên trên bờ ruộng, bờ mương đã lấp
Mả cũ trong vườnVườn của các nhà lâu đờiTập quán chôn cất trên đất nhà của cư dân gốc

Gặp những dấu vết này thì nhìn, hỏi, chụp từ xa; đừng tự ý vào vườn, vào khu mộ của người ta. Đó là đất có chủ và là chỗ thiêng của gia đình họ.

Những lời kể về thời ruộng vườn cần nghe cẩn thận

“Hồi đó cả bán đảo toàn ruộng.” Nói vậy để nhấn mạnh thì đúng tinh thần, nhưng thực tế luôn có xen nhà, vườn, bến, xóm nhỏ. Đừng vẽ lại bức tranh quá thuần một màu.

“Đất này ngày xưa của nhà mình hết.” Câu nghe trong xóm rất nhiều. Chuyện sở hữu đất đai trải qua nhiều thời kỳ, giấy tờ thay đổi; tranh chấp phải giải quyết bằng hồ sơ, qua luật sư và cơ quan đất đai, không phải bằng lời kể.

Con số năng suất, giá đất ngày xưa. Mỗi người nhớ một kiểu, đơn vị đo cũng khác nhau. Ghi lại như chuyện kể, đừng trích như dữ liệu.

Mốc năm. Người lớn tuổi thường nhớ theo sự kiện của gia đình (năm cưới, năm sinh con) hơn là theo lịch. Hỏi thêm “lúc đó con ông bà mấy tuổi” để suy ra mốc gần đúng.

Tên xóm, tên rạch cũ. Có tên đã mất, có tên đổi theo từng thời. Ghi lại cả cách phát âm và người kể, vì đây là phần dễ mất nhất.

So sánh “ngày xưa sướng hơn”. Ký ức có xu hướng làm đẹp quá khứ. Hỏi thêm về mặt khó: muỗi, ngập, thiếu điện, bệnh tật, để bức tranh cân bằng.

Chuyện ma, chuyện linh thiêng. Là một phần văn hóa xóm ven sông. Ghi lại với sự tôn trọng, không chế giễu, không biến thành chuyện câu khách.

Ảnh cũ không ghi chú. Ảnh là bằng chứng quý nhưng dễ đặt nhầm chỗ, nhầm thời. Hỏi người đưa ảnh chụp ở đâu, khoảng khi nào, rồi ghi ngay ra mặt sau hoặc kèm tệp.

Câu hỏi thường gặp

Bán đảo Thanh Đa ngày xưa trồng gì?

Theo lời kể phổ biến, chủ yếu là rau ăn lá, lúa trên ruộng trũng, cây ven nước như dừa nước, bần, kèm ao mương nuôi cá. Đất phù sa ẩm hợp với rau, còn cây ăn trái thường phải trồng trên mô đất cao.

Còn ruộng rau ở Thanh Đa không?

Vẫn còn những mảnh rau, vườn nhỏ xen giữa nhà, nhất là phía trong xa trục đường chính, nhưng thu hẹp dần. Đó là đất có chủ, muốn xem gần thì hỏi người đang làm vườn trước.

Vì sao nhà cũ ở Thanh Đa có nền cao hơn sân?

Đó là cách người xưa né ngập theo triều: tôn nền chỗ ở, để sân, lối đi chịu nước. Khi đường sá được nâng dần qua các thời kỳ, nhiều nhà cũ lại thành thấp hơn mặt đường.

Thanh Đa có từng bị nhiễm mặn không?

Sông Sài Gòn chịu thủy triều từ biển, vào mùa khô độ mặn có thể lên cao ở đoạn hạ lưu. Người làm vườn ngày trước phải canh nước ngọt để tưới, đây là kinh nghiệm truyền miệng nhiều nhà còn nhớ.

Tìm ảnh Thanh Đa ngày xưa ở đâu?

Nguồn tốt nhất thường là album của các gia đình ở lâu trên bán đảo, kế đến là thư viện, kho lưu trữ của thành phố và các nhóm sưu tầm ảnh cũ. Ảnh trên mạng cần kiểm nguồn vì hay bị gắn nhầm địa điểm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.